UAI.ORG.VN

Screen

Profile

Direction

Menu Style

Cpanel

Không gian mặt nước – một nét đặc trưng của đô thị Hà nội

  • PDF

1. ‘Đặc trưng đô thị’ hay ‘ý nghĩa của một nơi chốn’ trong Thiết kế Đô thị

Đặc trưng (characteristic), bản sắc ( identity) hay ý nghĩa của nơi chốn (sense of place) là những khái niệm quan trọng, được đề cập đến rất nhiều trong các tài liệu viết về thiết kế đô thị (TKĐT) (Banz,1970, Canter, 1977). Nó xuất phát từ tầm quan trọng của việc duy trì (và tạo dựng) bản sắc hay những đặc trưng của một thành phố, một khu vực thành phố hay một địa điểm nhất định, nói một cách chung hơn là một ‘nơi chốn’ (place) trong quá trình phát triển. Trong ngôn ngữ TKĐT, ‘nơi chốn’ không chỉ có ý nghĩa đơn thuần là địa điểm. Theo Canter (1977) ‘nơi chốn’ là một khái niệm mang các ý nghĩa địa lý, kiến trúc và xã hội; là tổng hợp của mối quan hệ giữa các hoạt động của con người (activities), các thuộc tính thực thể (physical properties) của một địa điểm  và các ý niệm (thoughts) về nơi đó . Nói một cách khác, ‘nơi chốn’ chỉ một bối cảnh được mường tượng ra, trong đó có các sự kiện, các đối tượng và các hoạt động. Như vậy, nó khác với khái niệm ‘địa điểm’ thông thường ở chỗ ý nghĩa địa lý của nó được được liên hệ chặt chẽ với không gian thực thể và không gian xã hội (cả lịch sử và hiện tại) và được phản ảnh qua tư duy của con người. Về mặt thực thể, nơi chốn gồm cả những yếu tố tự nhiên và những yếu tố nhân tạo. Nơi chốn quan trọng hơn những công trình kiến trúc riêng biệt. Nó là một tổng thể gồm những yếu tố rất cụ thể như vật chất, vật liệu, hình dạng, kết cấu, màu sắc, và không gian – tất cả quyết định đặc điểm và tinh chất của nơi chốn ấy.

Khái niệm ý nghĩa của nơi chốn phản ánh khả năng có thể phân biệt, nhận biết được sự khác biệt giữa các địa điểm khác nhau. Về lý thuyết, cảm nhận được ‘ý nghĩa của một nơi chốn’ tức là một người – với tất cả các giác quan của mình - có thể định hướng được bản thân trong môi trường không gian tại nơi chốn đó. Có thể định nghĩa ý nghĩa của một nơi chốn là những đặc điểm thực thể hoặc văn hóa được tích lũy và hình thành theo thời gian và từ đó gợi nên những ký ức, tình cảm của con người về nơi đó. Đó là những phẩm chất quyết định bản sắc của một địa điểm và giúp chúng ta phân biệt nơi đó với những nơi khác. Như vậy ‘ý nghĩa của nơi chốn’, ‘bản sắc’ hay ‘đặc trưng’ của một địa điểm là các khái niệm gần nghĩa.

Nếu TKĐT, theo Shirvani (1981) là một quá trình gồm những nỗ lực nhằm bảo vệ chất lượng môi trường khi thành phố biến đổi thì giữ gìn ‘bản sắc’ hay ‘ý nghĩa của các nơi chốn’ trong đô thị là một trong những nội dung quan trọng nhất của công tác này. Từ những vấn đề lý thuyết trên, rõ ràng là ‘ý nghĩa của nơi chốn’ rất cần được xác định và xem xét kỹ lưỡng trong quá trình qui hoạch và thiết kế các thành phố, các khu vực thành phố, đặc biệt là các thành phố châu Á. Tại sao vậy? Thứ nhất, châu Á là nơi giàu di sản đô thị cả về thực thể lẫn văn hóa. Thứ hai, quá trình đô thị hóa ở châu lục này diễn ra muộn hơn nhưng lại chóng vánh hơn ở các thành phố châu Âu. Tốc độ đô thị hóa nhanh chóng ở các thành phố châu Á những thập niên gần đây đã làm đau đầu các nhà qui hoạch và chính quyền các đô thị với hàng loạt những vấn đề trước mắt như đầu tư cho cơ sở hạ tầng, cải thiện tình trạng tắc nghẽn giao thông, cung cấp nhà ở cho dân số đô thị ngày càng tăng, trong khi các nguồn lực lại hạn hep. Vì thế vấn đề duy trì bản sắc đô thị đã bị quên lãng hoặc xếp xuống hàng thứ yếu. Những xu hướng phát triển hiện đại, những thành tựu khoa học kỹ thuật (như xây dựng nhà cao tầng, đường cao tốc) được phổ biến toàn cầu càng làm cho hình thái và không gian thực thể - văn hóa của các đô thị ở khu vực này biến đổi mạnh mẽ nhưng lại có xu hướng giống nhau. Thực tế trên cũng có nghĩa là nguy cơ mất mát hoặc mai một đi các di sản đô thị ở châu Á rất lớn và việc duy trì những đặc điểm riêng của mỗi thành phố càng khó khăn hơn.


2. Không gian mặt nước – một đặc trưng của không gian đô thị Hà nội

Quay về với các đô thị của Việt nam và lấy Hà nội làm ví dụ, bộ mặt và qui mô thành phố thay đổi tương đối nhanh chóng, đặc biệt trong một vài năm gần đây. Nhận thức được tầm quan trọng của vấn đề giữ gìn bản sắc đô thị trong quá trình đô thị hóa, chúng ta đã có nhiều nỗ lực để bảo tồn và giữ gìn không gian kiến trúc, văn hóa cho khu phố cổ, khu phố Pháp, và nhiều di tích văn hóa lịch sử khác; tất cả đều nhằm giữ lại những nét đặc trưng mang giá trị lịch sử cho Hà nội. Bằng lý thuyết ‘ý nghĩa của nơi chốn’, bài viết này cố gắng phân tích và chỉ ra một yếu tố quan trọng nữa tạo nên đặc trưng của thành phố mà từ trước đến nay chúng ta ít quan tâm tới, đó là hệ thống không gian mặt nước ở Hà nội - chủ yếu được tạo thành nhờ một loạt các hồ lớn nhỏ.

Điểm qua những tài liệu lý thuyết TKĐT, chúng ta thấy có 7 thành tố chính tạo nên không gian đô thị, đó là: (1) hình thái tổng quát của thành phố, (2) phân bố sử dụng đất, (3) hoạt động của con người, (4) hình dạng công trình và kiến trúc, (5) mạng lưới đường và hệ thống giao thông, (6) đường đi bộ và (7) không gian mở (Catanese, 1979, Spreiregen, 1984, Shirvani, 1985). Như vậy, trước tiên, có thể khẳng định cây xanh mặt nước – với tư cách là không gian mở - là một yếu tố quan trọng trong ngôn ngữ không gian đô thị Hà nội.

Có thể khái quát ba yếu tố chính tạo nên ‘ý nghĩa của nơi chốn’, đó là (1) môi trường thực thể, (2) hoạt động của con người trong môi trường đó, và (3) vai trò (hay tầm quan trọng) của môi trường đó (tức là nơi chốn đang nói tới) đối với con người. Sau đây chúng ta sẽ cùng phân tích hệ thống cây mặt nước ở Hà nội theo ba yếu tố trên để thấy rằng chính những mặt nước này đã tạo nên đặc trưng và ý nghĩa cho thành phố.

Môi trường thực thể

Môi trường thực thể của một đô thị gồm những không gian nhân tạo và không gian tự nhiên. Một đặc điểm của hệ thống không gian tự nhiên ở Hà nội là sự tồn tại của hàng loạt các mặt nước lớn nhỏ. Ở các đô thị phương Tây, các quảng trường - các không gian nhân tạo dạng ‘đóng’ - là những nơi chốn quan trọng vì chúng là nơi nuôi dưỡng các sinh hoạt cộng đồng, nơi con người gặp gỡ và giao tiếp. Ở Hà nội, những cảnh quan thiên nhiên tạo bởi mặt nước và cây xanh – là các không gian mở, tạo cảm rộng rãi, thoáng mát cũng là những nơi chốn quan trọng không kém. Giáo sư Trần Quốc Vượng, với những nghiên cứu lịch sử của mình đã từng kết luận “Thăng long – Hà nội là một thành phố sông hồ”. Còn khách phương xa tới Hà nội đều dễ dàng nhận thấy rằng, đây là thành phố của những hồ nước. Trên toàn thành phố có khoảng hơn một trăm hồ nước to nhỏ khác nhau với tổng diện tích mặt nước trên hai ngàn hecta.

Sinh hoạt của con người

Về mặt lịch sử, gần một ngàn năm trước đây khi vua Lý Công Uẩn chọn Hà nội làm kinh kỳ, đã tồn tại một hệ thống sông ngòi và hồ ao rất phong phú ở mảnh đất này. Từ thời đó, người dân kinh thành Thăng long đã sống thành từng làng xóm ven những hồ ao sẵn có. Theo nhà sử học Nguyễn Thừa Hỷ, hầu hết các làng nghề truyền thống ở Hà nội và vùng ven đô đều nằm cạnh hồ ao sông ngòi để khai thác các nguồn nước cho sinh hoạt, sản xuất và đi lại. Ví dụ làng Bưởi với nghề làm giấy, làng Võng thị, Nghi tàm, Trích sài với nghề dệt và nhuộm lụa, các làng này đều nằm quanh hồ Tây. Làng Ngũ xã bên hồ Trúc bạch, làng Kim liên bên hồ Bảy mẫu thì có nghề đúc đồng. Các làng nông nghiệp khác ở ven đô thì càng cần đến các nguồn nước cho sản xuất nông nghiệp. Những nguồn nước này đã thực sự gắn bó với đời sống của người dân Hà nội từ ngàn đời nay, và hầu hết các di  tích tiền – sơ sử, lịch sử của Hà nội đều nằm ở ven sông, ven hồ (Vượng, 2003)

Giờ đây, trong xã hội hiện đại thì hoạt động sống của người dân thành phố Hà nội vẫn gắn bó chặt chẽ với các hồ, nhưng không phải để sản xuất nữa mà chủ yếu là để nghỉ ngơi thư giãn. Đây có lẽ là chức năng quan trọng nhất của hệ thống hồ trong cuộc sống đô thị hiện đại. Không gian mặt nước ở các hồ Hà nội luôn là nơi được người dân thành phố yêu mến nhất vì chúng là hiện thân của vẻ đẹp tự nhiên, vì chúng thật dễ tiếp cận và thật dễ chịu thư thái khi ở bên chúng. Người ta thường dừng chân bên hồ mỗi khi rỗi rãi, để tận hưởng làn không khí mát lạnh từ mặt nước trong những ngày nóng bức. Người ta đến bên hồ khi hạnh phúc hay khi có chuyện buồn; dường như sự mênh mông và hư không  của thiên nhiên có thể chia sẻ được với con người những tâm tư tình cảm. Người ta đến bên hồ vào những sớm mai để tập thể thao, vào những lúc chiều tà hay những tối sáng trăng để tìm một thoáng yên tĩnh sau một ngày làm việc căng thẳng. Người ta đến bên hồ một mình, hoặc với bạn bè. Chẳng phải mất mát tốn kém gì để được gần kề với sự hiện diện tuyệt vời của tự nhiên trong lòng đô thị.

Bên cạnh chức năng chung nói trên, một số hồ như hồ Tây, hồ Hoàn kiếm còn là nơi tổ chức các hoạt động cộng đồng như các lễ hội văn hóa, các giải thể thao, các sân khấu ngoài trời, các điểm bắn pháo hoa.

Vai trò và tầm quan trọng của các không gian mặt nước ở Hà nội đối với con người

Từ những dẫn giải trên, chúng ta có thể thấy được ý nghĩa đầu tiên của mặt nước các hồ ao ở Hà nội là ý nghĩa lịch sử. Thứ hai là ý nghĩa về mặt chức năng của chúng, là các không gian nghỉ ngơi thư giãn của người dân thủ đô. Điểm thứ ba cần phải nhắc đến là ý nghĩa sinh thái của các hồ. Hệ thống không gian mặt nước ở Hà nội thực sự góp phần quan trọng trong việc điều hòa khí hậu thành phố. Nghiên cứu về môi trường cây xanh mặt nước Hà nội thực hiện bởi viện Qui hoạch Đô thị và Nông thôn năm 1994 cho thấy, mặt nước giúp giảm nhiệt độ môi trường không khí vào ngày hè từ 2 đến 4 độ C, làm tăng độ ẩm từ 5 đến 12% và giảm 2 đến 4,5% bức xạ mặt trời. Thêm nữa, mặt nước giúp lưu thông các luồng khí mát và khí nóng, điều hòa vi khí hậu các khu vực lân cận. Phải nói rằng, với các thành phố vùng nhiệt đới như Hà nội thì sự hiện diện của các mặt nước nói trên càng có giá trị. Vào ngày hè oi bức mà được hưởng một làn gió mát từ hồ thì thật là tuyệt diệu. Ở những khu vực mật đô dân cư và mật độ xây dựng cao như quận Hoàn kiếm, quận Đống đa thì hồ nước và khoảng xanh xung quanh thực sự trở thành các lá phổi của đô thị. Ngoài ra, tất cả các hồ ao ở Hà nội đều có vai trò quan trọng trong việc thoát nước mưa trong thành phố vào mùa mưa lũ.

Điểm thứ tư phải ghi nhận là ý nghĩa thẩm mỹ của các mặt nước trong cảnh quan thành phố Hà nội. Mặt nước luôn là một thành tố quan trọng trong nghệ thuật kiến trúc cảnh quan, trong ngôn ngữ hình thái học đô thị. Với Hà nội, thứ nhất, bản thân mặt nước các hồ đã là những cảnh quan thiên nhiên quan trọng, mang cho Hà nội một nét duyên thầm, một sự hiện hữu của thiên nhiên đây đó trong lòng đô thị, một sự đối lập bất ngờ giữa sự mênh mông của mặt nước và sự đông đúc, chật chội của phố phường. Thứ hai, chúng có vai trò định hình cảnh quan kiến trúc của các công trình xung quang chúng, giúp cho các công trình kiến trúc có cơ hội phô diễn và nhờ đó và nâng giá trị thẩm mỹ của các công trình. Khi các công trình kiến trúc quần tụ xung quanh và hướng ra phía hồ nước, thì tại các điểm khác nhau xung quanh hồ ta sẽ có cơ hội chiêm ngưỡng các ‘hình bóng’, các ‘silhouet’ đẹp mà nếu không có sự tồn tại của mặt nước, chúng ta không thể có được những điểm nhìn quí và cả điều kiện để phô diễn toàn cảnh các công trình kiến trúc như vậy.

Tất cả những phân tích trên giúp chúng ta nhận ra rằng chính sự hiện diện của những hồ nước tạo nên cái gọi là ‘sense of place’ cho Hà nội. Hình ảnh mặt nước hồ Hà nội luôn hiển hiện trong tâm hồn người Hà nội, trong thơ ca, hội họa, trong cảnh quan kiến trúc và trong đời sống đô thị, từ đó tạo nên một ý nghĩa quan trọng thứ năm, đó là ý nghĩa biểu trưng. Sự tồn tại của những mặt nước trong thành phố thực sự là một đặc trưng của Hà nội, một loại di sản tự nhiên của Thủ đô.

Hệ thống tầng bậc các hồ ở Hà nội

Các hồ hiện diện ở nhiều nơi trong thành phố, tất cả chúng đều thật quan trọng, nhưng có một điều thú vị mà chúng ta ít chú ý là dường như có một tầng bậc về ý nghĩa của các hồ nước ở Hà nội. Một số hồ do có một số thuộc tính riêng về vị trí, hay lịch sử nên có ý nghĩa đặc biệt hơn những hồ khác. Ví dụ, hồ Hoàn kiếm, hồ Tây là những hồ có ý nghĩa thiêng liêng đối với Hà nội vì sự tồn tại của chúng luôn song hành với lịch sử của thành phố. Các hồ khác có ý nghĩa thứ yếu hơn nhưng vẫn rất quan trọng đối với những khu vực đô thị nhỏ hơn, như hồ Thuyền quang, hồ Bảy mẫu trong khu vực quận Hai Bà Trưng. Một số hồ nữa như hồ Giảng võ, hồ Ngọc Khánh, hồ Văn chương, hồ Nam đồng, hồ Xã đàn, và nhiều hồ ao nhỏ hơn khác thì lại thực sự quan trọng với những khu vực dân cư xung quanh chúng. Có thể đánh giá ‘ý nghĩa’ của mỗi hồ thông qua những tiêu chí như: vị trí, ý nghĩa lịch sử - văn hóa, các hoạt động của con người, các chức năng sử dụng đất và không gian kiến trúc xung quanh, hay khả năng tiếp cận bởi đông đảo người dân v.v... Ví dụ, làm một phép so sánh đơn giản giữa hồ Hoàn kiếm và hồ Giảng võ theo các tiêu chí trên, ta có thể nói một cách ngắn gọn là hồ Hoàn kiếm là trái tim của Hà nội còn hồ Giảng võ là trái tim của khu tập thể Giảng võ. Cũng tương tự như vậy, hồ Ngọc Khánh, hồ Xã đàn, hồ Nam đồng và nhiều hồ ao khác, nếu được tổ chức tốt hơn nữa hệ thống đường dạo và sân vườn xung quanh thì chắc chắn cũng sẽ là trái tim của các khu dân cư tương ứng.

3. Bảo tồn và tạo thêm nhiều không gian mặt nước – một giải pháp nhằm gìn giữ và duy trì nét đặc trưng của Hà nội

Từ những tìm tòi trên, tác giả xin đề xuất một hệ thống có tính chất mô hình hóa về vị trí và vai trò không gian mặt nước trong cấu trúc đô thị Hà nội. Như chúng ta đều biết, một nguyên tắc tổ chức không gian, tổ chức cuộc sống và quản lý đô thị phổ biến, áp dụng ở nhiều nước và cả ở nước ta là tổ chức theo cơ cấu tầng bặc, đặc biệt đối với việc tổ chức khu dân dụng - loại sử dụng đất chiếm tỷ lệ cao nhất trong đô thị. Ví dụ, chúng ta có hệ thống tầng bậc từ trên xuống gồm: thành phố (city), khu vực thành phố (district– có thể xem tương đương với Quận), khu nhà ở (sector – có qui mô cỡ một vài phường), đơn vị ở cơ sở (neighborhood – qui mô cỡ một phường), rồi đến các đơn vị ở nhỏ hơn nữa (precint – như cụm, hay tổ). Ở mỗi cấp trong tầng bậc trên đều cần có các trung tâm tương ứng, là nơi tập trung các công trình công cộng, các tiện ích xã hội và dịch vụ đô thị. Trung tâm ở mỗi cấp sẽ có qui mô, tính chất và các loại hình công trình có tầm quan trọng và bán kính phục vụ khác nhau, tương ứng với cấp bậc mà nó đại diện. Như phát hiện ở phần trên, dường như cũng tồn tại một hệ thống tầng bậc với các hồ nước của thành phố Hà nội. Vì vậy, chúng ta có thể kết hợp yếu tố mặt nước vào hệ thống tổ chức qui hoạch không gian tầng bậc nói trên để áp dụng cho Hà nội. Có thể mô tả đề xuất về cấu trúc này như sau:

-    Các không gian mặt nước sẽ được sử dụng như một công cụ để định hướng không gian và tổ chức các sinh hoạt của đời sống đô thị. Mỗi mặt nước sẽ đại diện cho một đơn vị chức năng nơi nó tồn tại và được bố trí tại trung tâm các đơn vị đó.
-    Các công trình dịch vụ công cộng trực tiếp phục vụ cho sinh hoạt hàng ngày của đô thị về các mặt văn hóa, xã hội, hành chính cấp thành phố, cấp quận, cấp khu nhà ở và đơn vị ở sẽ được bỗ trí xung quanh hoặc gần cận với các mặt nước để tạo thành các khu vực hạt nhân (về cả không gian lẫn sinh hoạt đô thị) của từng đơn vị chức năng các cấp. Ví dụ về các công trình này có thể là: trụ sở UBND các cấp, điểm đỗ của các phương tiện giao thông công cộng như xe buýt, tàu điện, tàu điện ngầm (nếu có), trường học, trạm y tế, nhà văn hóa, trung tâm thương mại các cấp, các công trình tín ngưỡng hay đài tưởng niệm, bưu điện, văn phòng, khách sạn hay ngân hàng đối với các trung tâm cấp quận hoặc khu ở, v.v... Việc kết hợp hồ nước và các công trình chức năng nói trên sẽ bổ sung cho nhau và làm tăng sức hấp dẫn của các khu trung tâm, biến chúng thành các rendezvous, là nơi tổ chức và nuôi dưỡng các sinh hoạt cộng đồng, các giao tiếp xã hội.
-    Nếu được kết nối bằng hệ thống cây xanh, các sông thoát nước hiện có và các đường đi bộ (cần phải tạo thêm), chúng ta có thể có một hệ thống liên hoàn các không gian mặt nước và cây xanh, tồn tại song hành với hệ thống các trung tâm công cộng từ cấp thành phố đến các khu vực chức năng cấp dưới.

Cách tổ chức không gian với mặt nước là yếu tố có tính chất định hướng như trên giúp chúng ta đạt được các mục đích sau:
-    Tạo ra được các không gian đô thị phong phú, hấp dẫn với một ‘network’ của mặt nước và cây xanh trong lòng đô thị
-    Duy trì và nhấn mạnh được một đặc trưng không gian của Hà nội: thành phố của mặt nước và cây xanh
-    Phân bố tương đối đồng đều các không gian thiên nhiên, nghỉ ngơi, thư giãn mà mọi người yêu thích - được kết hợp với các chức năng công cộng của đô thị đến các đơn vị phát triển. 
-    Là giải pháp điều hòa khí hậu thoát nước mưa cục bộ và cho các đơn vị phát triển

Cần lưu ý rằng, việc đưa ra mô hình này chỉ có ý nghĩa gợi ý cho việc tổ chức không gian đô thị tại các khu vực phát triển khác nhau, chứ không nhất thiết phải áp dụng và cũng không thể áp dụng cho mọi nơi. Cụ thể là, không phải ở đâu cũng tồn tại sẵn một mặt nước và lại nằm ở đúng trung tâm các khu vực phát triển. Trong các khu vực nội thành đông đúc không còn lấy một mảnh đất trống thì không thể nói đến ‘giấc mơ’ về một mặt nước được tạo ra nhằm các mục đích nói trên. Tuy nhiên, theo suy nghĩ của cá nhân tác giả, mô hình này lại thực sự có ý nghĩa nhằm định hướng cho việc thiết kế các khu phát triển mới. Thời gian qua chúng ta đã cho ra đời hàng loạt các khu đô thị mới (ĐTM), chủ yếu sử dụng quĩ đất nông nghiệp nằm ở rìa đô thị. Ở rất nhiều khu vực trước khi đô thị hóa đã tồn tại những mặt nước ao hồ rộng lớn phục vụ sản xuất nông nghiệp, nhưng hầu hết bị lấp đi để lấy bề mặt cho phát triển. Thật đáng tiếc khi chúng ta bỏ qua những cơ hội tạo ra các mặt nước quí giá cho thành phố. Cũng có nhiều khu ĐTM, các mặt nước vẫn còn nhưng được để lại ở rìa khu ở, hoặc gần như không được trú trọng trong khâu thiết kế nên không phát huy được hết vai trò và ý nghĩa của chúng. Có lẽ chúng ta phải thận trọng hơn khi xem xét các yếu tố thiên nhiên của hiện trạng khu vực khi lập các qui hoạch chi tiết cho các khu ĐTM này. Các hồ nhân tạo vẫn khả thi nếu như chúng ta kết hợp việc đào hồ với việc tôn tạo gia cố nền đất tại những nơi đất trũng.

Giữ gìn bản sắc cho các đô thị là cần thiết – điều đó ai cũng rõ, nhưng “bản sắc là gì” có thể vẫn là thắc mắc chung đối với nhiều người. Theo ý kiến cá nhân tác giả, bản sắc hay đặc trưng của một đô thị không phải là điều gì xa lạ, trừu tượng. Đó chính là những yếu tố đô thị xung quanh chúng ta, gần gũi với chúng ta, có ý nghĩa với cuộc sống của chúng ta và được chúng ta yêu mến. Với Hà nội, ngoài việc giữ gìn và đưa vào phục vụ tốt hơn nữa các mặt nước sẵn có, chọn lựa và tạo ra các mặt nước mới, tổ chức không gian kiến trúc cảnh quan xung quanh chúng một cách khéo léo, chúng ta sẽ có các phát triển mới không chỉ văn minh, hiện đại mà còn duy trì được bản sắc của thành phố.


T.S. Phạm Thúy Loan, UAI, NUCE

Tài liệu tham khảo chính:
Banz (1970), Elements of Urban Form, Mcgraw Hill Book Company, New York
Canter (1977), The Psychology of Places, The Architectural Press, London
Catanese, Anthony J. và Snyder, James C. (1979), Introduction to Urban Design, Mcgraw Hill Book Company, New York
Nguyễn Thừa Hỷ (1993), Thăng long – Hà nội thế kỷ XVII, XVIII, XIX, Hội sử học Việt nam, Hà nội
Phạm Thúy Loan (1999), Nghiên cứu Thiết kế đô thị cho Khu vực Từ liêm – thành phố Hà nội, luận văn Thạc sĩ, Đại học Tổng hợp Tokyo, Tokyo
Shirvani, Hamid (1981), Urban Design Review – A Guide for Planners, APA, Washington D.C.
Shirvani, Hamid (1985), The Urban Design Process, Van Nostrand Reinhold, New York
Spreiregen, Paul D., Urban Design: The Architecture of Towns and Cities, McGraw-Hill Book Company, New York
Trần Quốc Vượng (2003), “Mấy vấn đề về qui hoạch Thăng long- Hà nội” trong tạp chí Quy hoach xây dựng, Số 1,  tháng 2, 2003.
Trung tâm Nghiên cứu Môi trường Đô thị và Nông thôn (1994), Thuyết minh Qui hoạch hệ thống cây xanh mặt nước để cải thiện môi trường cho vùng Thủ đô Hà nội, Viện Qui hoạch Đô thị và Nông thôn, Bộ Xây dựng.

 


 

Abstract

 

‘Sense of place’ is an important concept in many urban design literatures. According to Canter, ‘Sense of place’ is about physical and cultural characteristics that evolve through time and evoking the genius loci of each town or city. It is a quality that determines the identity of a place thus distinguishing between one place and the others, the quality that should be considered in the planning and design of our cities, especially cities in Asian region, where trends of modern development and progress have caused substantial changes in the physical appearance and form of their cities. Recognized the importance of maintaining urban identity for Hanoi, efforts have been made to conserve historical places and spaces. However, waterscape – an important element that create ‘sense of place’ for Hanoi seem to be neglected.

Reviewing urban design literatures, we find three fundamental components that create ‘sense of place’: (1) Physical environment, (2) human activities and (3) significances (of the place to human life). In term of the physical environment, water surface is a familiar element of the Hanoi’s physical fabric. There are  about hundred lakes and ponds in the city, thus Hanoi is called ‘the city of lakes and rivers’. In term of human activities, water has always been attached to lives of Hanoians from the history. Nowadays, in modern society, these waterscape are important destinations of various activities: leisure, sport, meeting friends, aspiring landscape… Talking about the significance of these waterscape, five points can be addressed: historical significance, functional significance (as places for social and leisure activities), ecological significance, aesthetic and symbolic significance. Another interesting finding is that there seems to be a hierarchy of roles and meaning among the lakes evaluated according to the lake’s location, accessibility, surrounding land use and architecture, human activities, landscaping and historical meaning. For example, Hoan-kiem lake is regarded as the heart of Hanoi, while Giang-vo lake is indeed the heart of Giang-vo residential neighborhood, etc.

From the above discussion, the author suggest a conceptual urban design principle using water as organizing element of activities and townspace for Hanoi: for each development unit of different level (neighborhood, sector, district or city), there should be a lake at it center, sited in combination with locations of corresponding social services, facilities and amenities of the unit. This principle helps (a) to create attractive urban spaces and places with ‘network’ of water and greenery at cores; (b) to maintain and emphasize ‘sense of places’ for Hanoi; (c) to distribute evenly open spaces, leisure places combined with social services over the city, and at the same time (d) to provide solution for moderating microclimate and draining surface-water for development areas in Hanoi.

You are here: Chuyên đề Thiết kế Đô thị Không gian mặt nước – một nét đặc trưng của đô thị Hà nội